• example
  • example
  • example
  • example
  • example

Trang chủ - Nghiên Cứu - Pháp luật về đầu tư tại Việt Nam

    Phần I

    PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM

    Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam bắt buộc phải thay đổi, phát triển hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về đầu tư và thương mại. Năm 1987 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, và sau đó được sửa đổi bổ sung nhiều lần. Đến năm 1a996, Quốc hội Việt nam đã ban hành mới Luật Đầu Tư Nước Ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật đầu tư nước ngoài 1987 và cũng được sửa đổi bổ sung vào năm 2000. Trong khi đó, vào cùng thời điểm đầu thập niên 90, các hoạt động đầu tư do các nhà đầu tư trong nước thực hiện lại được điều chỉnh bởi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990), sau đó được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp (1999). Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, Việt Nam thấy cần thiết phải ban hành một bộ luật thống nhất có thể điều chỉnh và chi phối các hoạt động đầu tư trong nước lẫn nước ngoài. Do vậy, năm 2005 Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Doanh Nghiệp và Luật Đầu tư, cùng có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 2006. Các luật này thay thế Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam và Luật Doanh nghiệp 1999. Bên cạnh đó, nhằm tăng cường thể chế và môi trường kinh doanh, Quốc hội Việt Nam đã thông qua rất nhiều bộ luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005, Luật Bảo hiểm, Luật các tổ chức tín dụng, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật chứng khoán v.v… Hệ thống pháp luật kinh doanh ngày càng hoàn thiện và là cơ sở pháp lý vững chắc để tạo nền tảng cho hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài phát triển, cất cánh.


    A. CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ

    Nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước có thể lựa chọn hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp khi thực hiện các hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Đối với nhà đầu tư nước ngoài nếu đầu tư vào một số lĩnh vực có điều kiện theo cam kết WTO của Việt Nam thì một số hạn chế có thể được áp dụng. Các hạn chế đó có thể bao gồm hạn chế tỷ lệ sở hữu phần vốn góp, ngành nghề không được phép đầu tư… Tuy nhiên, những hạn chế này cũng đang dần được tháo bỏ theo lộ trình mở cửa mà Việt Nam đã cam kết.. Theo quy định của pháp luật đầu tư hiện hành, có hai hình thức đầu tư là đầu tư “trực tiếp” và đầu tư “gián tiếp”.

    1.Hình thức đầu tư trực tiếp

    Hình thức đầu tư trực tiếp gồm có các hoạt động đầu tư sau đây:

    • Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;
    • Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài;
    • Đầu tư theo hình thức các Hợp đồng như: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hoặc Hợp đồng xây dựng, kinh doanh, chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây dựng, chuyển giao, kinh doanh (BOT) hoặc Hợp đồng xây dựng, chuyển giao (BT);
    • Đầu tư phát triển kinh doanh;
    • Đầu tư mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
    • Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
    Trong số các hình thức đầu tư được liệt kê ở trên, hình thức đầu tư truyền thống và phổ biến nhất là thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh và đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC. Trong thời gian gần đây, với sự phát triển của thị trường vốn, hình thức đầu tư bằng việc mua phần vốn góp, mua cổ phần của các công ty để trở thành thành viên, cổ đông và tham gia điều hành, quản lý hoạt động đầu tư đang ngày càng gia tăng.
    Để thực hiện hoạt động đầu tư dưới hình thức thành lập công ty 100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh, nhà đầu tư phải làm thủ tục để thành lập một pháp nhân tại Việt Nam. Pháp nhân này có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như công ty trong nước. Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài, họ có thể lựa chọn để thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh. Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức liên doanh, thì hình thức công ty để họ lựa chọn thành lập sẽ hạn chế hơn gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh với sự có mặt của bên Việt Nam là điều bắt buộc. Đầu tư theo hình thức BCC, BOT, BTO, BT là các hình thức đầu tư dựa trên cơ sở Hợp đồng. Hình thức đầu tư này không tạo ra pháp nhân, các bên có thể thỏa thuận việc phân chia lợi nhuận và lỗ hoặc phân chia sản phẩm hợp tác trong Hợp đồng. Hình thức đầu tư BCC thường được áp dụng trong các lĩnh vực Viễn Thông, Dầu Khí và Bất động sản. Trong khi đó các hợp đồng BOT, BTO, BT lại thường được sử dụng trong lĩnh vực giao thông và phát triển cơ sở hạ tầng.

    2.Hình thức đầu tư gián tiếp

    Hình thức đầu tư gián tiếp gồm có các hoạt động đầu tư sau đây:

    • Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị khác;
    • Đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán;
    • Đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian khác.

    3.Văn phòng đại diện hoặc chi nhánh

    Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài không lựa chọn hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp vào Việt Nam nhưng mong muốn có hiện diện thương mại tại Việt Nam thì có thể lựa chọn thành lập Văn phòng đại diện hoặc Chi nhánh. Điều đáng lưu ý là Văn phòng đại diện không có tư cách pháp nhân và không được thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại nhằm tạo ra lợi nhuận. Trưởng văn phòng đại diện không được phép ký kết các hợp đồng thương mại trừ khi có sự ủy quyền từ công ty nước ngoài. Thủ tục thành lập Văn phòng đại diện được pháp luật quy định khá rõ ràng. Hồ sơ thành lập Văn phòng đại diện được gửi tới Sở Công Thương. Trong phạm vi 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Công Thương sẽ xem xét và cấp giấy phép thành lập. Phí thành lập văn phòng đại diện là 1.000.000 Việt Nam đồng (khoảng 60 USD). Khác với Văn phòng đại diện, chi nhánh của công ty nước ngoài được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh tại Việt nam. Chi nhánh không phải là một pháp nhân độc lập mà là một bộ phận của công ty nước ngoài. Về phương diện pháp lý, Chính phủ Việt Nam không hạn chế việc cho phép công ty nước ngoài thành lập chi nhánh. Tuy nhiên, việc thành lập chi nhánh trong một số lĩnh vực bị hạn chế và chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ cụ thể là ngân hàng, bảo hiểm, pháp lý, chứng khoán và quản lý quỹ. Trên thực tế hiện nay, rất ít chi nhánh của các công ty nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam bởi rất nhiều lý do khác nhau.

    B.THỦ TỤC CẤP PHÉP ĐẦU TƯ

    Theo quy định của pháp luật về đầu tư, tất cả các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dù là dưới hình thức công ty 100% nước ngoài, công ty liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc hình thức đầu tư trực tiếp khác đều phải thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Giấy chứng nhận đầu tư quy định rõ tên, loại hình công ty, phạm vi được phép hoạt động, người đại diện theo pháp luật, tổng số vốn đăng ký. Cần lưu ý thêm rằng, Giấy chứng nhận đầu tư được xem là giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp cho phép công ty thành lập và hoạt động. Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh, trong quá trình hoạt động, công ty có thể phải xin các loại giấy phép, phê chuẩn từ những cơ quan khác nhau để thực hiện dự án.

    1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư

    Để xin được Giấy chứng nhận đầu tư, tùy thuộc vào quy mô vốn đầu tư và lĩnh vực đầu tư, nhà đầu tư phải tuân theo một trong hai thủ tục: (i) thủ tục đăng ký đầu tư; hoặc (ii) thủ tục thẩm tra dự án. Trên thực tế, thủ tục đăng ký đầu tư đơn giản hơn rất nhiều.

    a. Thủ tục đăng ký đầu tư:

    được áp dụng đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư dưới 300 tỷ đồng (tương đương 17.5 triệu USD) và không thuộc danh mục đầu tư có điều kiện. Theo quy định của pháp luật, thời hạn cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo thủ tục này là 15 ngày làm việc

    b. Thủ tục thẩm tra dự án:

    được áp dụng đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ trở lên hoặc dự án thuộc danh mục đầu tư có điều kiện. Theo quy định của pháp luật, thời hạn cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo thủ tục này là 45 ngày làm việc.


    2. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đầu tư

    Hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư theo thủ tục đăng ký đầu tư gồm: (i) Văn bản đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư; (ii) Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư; (iii) Hợp đồng liên doanh hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh, Điều lệ doanh nghiệp (nếu có).
    Đối với dự án đầu tư phải thẩm tra thì nhà đầu tư phải bổ sung thêm tài liệu sau: (i) Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư; (ii) Giải trình kinh tế - kỹ thuật. Tuy nhiên, trên thực tế, tùy vào từng dự án, nhà đầu tư phải bổ sung thêm một số tài liệu khác như Đánh giá tác động môi trường, các tài liệu liên quan đến đất đai, dự án hoặc bổ sung các loại giấy phép, phê chuẩn cần thiết khác.


    3.Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư

    Trừ khi các luật chuyên ngành có quy định khác, Giấy chứng nhận đầu tư thường do Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh hoặc Trưởng Ban Quản lý Khu Công nghiệp nơi thực hiện dự án đầu tư cấp. Tuy nhiên, đối với một số dự án đầu tư có điều kiện, có quy mô lớn hoặc quan trọng thì Giấy chứng nhận đầu tư chỉ được cấp cho nhà đầu tư sau khi có ý kiến chấp thuận về chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành liên quan đến dự án. Lưu ý rằng Ủy ban chứng khoán, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước là các cơ quan cấp phép đối với các dự án trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng hoặc lĩnh vực tương ứng.


    4. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đầu tư

    Thông thường thời hạn để cơ quan cấp phép đầu tư xem xét và cấp giấy chứng nhận đầu tư khoảng từ 15 đến 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trên thực tế, thời hạn cấp phép đầu tư này có thể rút ngắn hay kéo dài tùy thuộc vào từng dự án cụ thể và cơ quan cấp phép của mỗi địa phương.

    C. CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

    Pháp luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Doanh Nghiệp (2005), Luật Đầu tư (2005), Luật Hợp tác xã (2003), Luật Các tổ chức tín dụng (1997, sửa đổi năm 2004), Luật Chứng khoán (2006) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu điểm hay hạn chế của nó. Tùy vào nhu cầu phát triển kinh doanh của mình, các nhà đầu tư có thể tham gia, thành lập các loại hình doanh nghiệp sau:


    1.Công ty trách nhiệm hữu hạn

    Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay. Pháp luật Việt Nam quy định có hai loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên.

    a. Đặc điểm:

    Công ty TNHH hai thành viên trở lên:
    • Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
    • Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi.
    • Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
    • Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.


    b. Quản lý doanh nghiệp:

    Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.


    c. Ưu điểm:

    • Các thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp của mình nên ít rủi ro cho người góp vốn;
    • Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên chủ yếu dựa trên mối quan hệ tin cậy lẫn nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp;
    • Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi thành viên.


    d. Hạn chế:

    • Việc chuyển nhượng vốn bị hạn chế và kiểm soát bởi các thành viên khác;
    • Không có quyền phát hành cổ phiếu nên khó khăn trong việc huy động vốn hoặc không thể tham gia sàn giao dịch chứng khoán.

    Công ty TNHH một thành viên

    Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có đầy đủ các đặc trưng của công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên. Điểm khác biệt nhất là nó chỉ có một chủ sở hữu duy nhất, có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm Hội đồng thành viên và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc và kiểm soát viên.


    2.Công ty cổ phần :

    a. Đặc điểm:

     

    • Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
    • Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
    • Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
    • Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
    • Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.


    b. Quản lý doanh nghiệp:

    Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát. Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quản lý cao nhất của công ty cổ phần.

    c. Ưu điểm:

    • Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp;
    • Cơ cấu vốn của công ty cổ phần linh hoạt, tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty;
    • Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần hiệu quả thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng và tham gia sàn giao dịch chứng khoán;
    • Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần tương đối dễ dàng.


    d. Hạn chế:

    • Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông lớn, có thể phân hóa thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích;
    • Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình doanh nghiệp khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán;
    • Cơ cấu tổ chức và ra quyết định của công ty phức tạp.


    3. Công ty hợp danh

    a.Đặc điểm:




    •Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn;
    • Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
    • Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
    • Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn;
    • Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty;
    • Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.

    a.Quản lý doanh nghiệp:

    Công ty hợp danh có hai loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.

    c. Ưu điểm:

    • Kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh nên công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh;
    • Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và dựa trên mối quan hệ uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.


    d. Hạn chế

    • Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh rất cao.


    4.Doanh nghiệp tư nhân

    a. Đặc điểm:




    • Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân và là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
    • Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.
    • Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đối với việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.


    a. Quản lý doanh nghiệp:

    Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    c. Ưu điểm

    • Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.
    • Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khá

    d. Hạn chế

    Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chính mình, chứ không giới hạn trong số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp.


    5. Hợp tác xã

    a. Đặc điểm:



    • Là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật hợp tác xã
    • Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.

     

    b.Quản lý doanh nghiệp:

    Đại hội xã viên có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã. Ban quản trị hợp tác xã là bộ máy quản lý hợp tác xã do Đại hội xã viên bầu trực tiếp, gồm Trưởng Ban quản trị và các thành viên khác. Số lượng thành viên Ban quản trị do Điều lệ hợp tác xã quy định. Ban kiểm soát là bộ máy giám sát và kiểm tra mọi hoạt động của hợp tác xã theo đúng pháp luật và Điều lệ hợp tác xã, do Đại hội xã viên bầu trực tiếp.

     

    6. Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp

    Tuỳ theo quy mô và lĩnh vực đầu tư, nhà đầu tư tiến hành các quy trình đăng ký thành lập doanh nghiệp phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và các luật chuyên ngành khác.

     

    a. Nơi đăng ký:

    Nơi đăng ký thành lập doanh nghiệp được tiến hành tại các Sở kế hoạch đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngoại trừ một số lĩnh vực đặc thù như chứng khoán, ngân hàng và bảo hiểm, nhà đầu tư phải đăng ký thành lập tại các cơ quan quản lý chuyên ngành như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính v.v..

     

    b. Hồ sơ gồm:

    • Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh;
    • Dự thảo điều lệ doanh nghiệp;
    • Hợp đồng liên doanh nếu có nhà đầu tư nước ngoài
    • Danh sách thành viên hoặc danh sách cổ đông sáng lập;
    • Giấy tờ chứng thực của thành viên góp vốn hoặc cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo pháp luật;
    • Doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề yêu cầu phải có vốn pháp định phải nộp kèm văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
    • Doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề phải nộp kèm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề và Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người có chứng chỉ hành nghề.
    • Bản kê khai thông tin đăng ký thuế.

     

    c. Thời hạn giải quyết hồ sơ:

    15 – 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ

     

    d. Lệ phí đăng ký kinh doanh:
    200.000 đồng

    Sau khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp sẽ tiến hành các thủ tục khác để chính thức hoạt động như đăng ký con dấu tại cơ quan công an, mở tài khoản ngân hàng, bố cáo thành lập trên báo chí, đăng ký mã số thuế với cơ quan thuế.

    PHẦN II

    LỘ TRÌNH MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VIỆT NAM THEO CAM KẾT GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

    Trải qua 12 năm đàm phán gia nhập và thực hiện cải cách kinh tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật nội địa theo hướng phù hợp với các chính sách minh bạch, tự do hóa của WTO, Việt Nam đã gia nhập WTO vào ngày 07/11/2006 và có tư cách thành viên đầy đủ của WTO kể từ ngày 11/01/2007. Kết quả đàm phán giữa Việt Nam và các thành viên WTO về việc mở cửa thị trường dịch vụ là nội dung được các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm sâu sắc. Theo nội dung của Biểu Cam Kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam (Biểu Cam Kết), có tất cả 11 ngành và 155 phân ngành dịch vụ được các Thành viên WTO tiến hành đàm phán và đạt được thỏa thuận.

     

    1. Dịch vụ kinh doanh

    Sau ngày 11/01/2011, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để kinh doanh các dịch vụ sau: dịch vụ kế toán, kiểm toán và sổ kế toán, dịch vụ thuế, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ tư vấn kỹ thuật, dịch vụ tư vấn kỹ thuật đồng bộ, dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan (được phép thành lập chi nhánh của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sau ngày 11/01/2011), dịch vụ nghiên cứu và phát triển, dịch vụ cho thuê không kèm người điều khiển, dịch vụ nghiên cứu thị trường, dịch vụ quản lý, dịch vụ liên quan đến tư vấn quản lý. Đối với dịch vụ quảng cáo (trừ quảng cáo thuốc lá), nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập liên doanh mà không hạn chế phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong liên doanh kể từ ngày 01/01/2009. Trong khi đó, từ ngày 11/01/2010, nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu đến 51% vốn điều lệ của liên doanh để cung cấp dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ. Hai năm sau đó, nhà đầu tư được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Đối với dịch vụ liên quan đến tư vấn khoa học kỹ thuật, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu đến 51% vốn điều lệ trong các liên doanh với đối tác Việt Nam. Sau ngày 11/01/2011, các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được phép thành lập. Việt Nam cho phép thành lập liên doanh để cung cấp dịch vụ liên quan đến sản xuất, trong đó nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu đến 50% vốn điều lệ của liên doanh. Sau ngày 11/01/2012, Việt Nam cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đối với dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị (không bao gồm sửa chữa, bảo dưỡng tàu biển, máy bay, hoặc các phương tiện và thiết bị vận tải khác), nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu đến 51% vốn điều lệ của công ty liên doanh và được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hai năm sau đó. Nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập liên doanh để cung cấp dịch vụ liên quan đến nông nghiệp, săn bắn và lâm nghiệp, và sở hữu đến 51% vốn pháp định trong liên doanh.

     

    2.Dịch vụ phân
    phối

    Kể từ ngày 01/01/2009, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để kinh doanh dịch vụ bán buôn, bán lẻ, dịch vụ đại lý hoa hồng và nhượng quyền thương mại ngoại trừ một số sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Sau ngày 11/1/2010, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bán buôn, bán lẻ và đại lý hoa hồng tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam. Tuy nhiên, thuốc lá và xì gà, sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình, kim loại quý và đá quý, dược phẩm, thuốc nổ, dầu thô và dầu đã qua chế biến, gạo, đường mía và đường củ cải không thuộc phạm vi cam kết trên của Việt Nam. Sau ngày 11/1/2010, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập chi nhánh để thực hiện dịch vụ nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT). Các tiêu chí chính để kiểm tra là: số lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện trong một khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và và quy mô địa lý. Mặc dù Biểu Cam Kết đã nêu rõ lộ trình mở cửa lĩnh vực phân phối, trên thực tiễn, quy trình cấp phép đầu tư vẫn yêu cầu phải có sự phê duyệt của Bộ Công Thương cho từng trường hợp cụ thể. Do đó, vẫn còn rào cản để nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận hoàn toàn thị trường phân phối Việt Nam.

     

    3.Dịch vụ tài chính

    Bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm:

    Theo nội dung cam kết, các doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài được phép cung cấp các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc từ ngày 01/01/2008, trong đó, nhà đầu tư nước ngoài cần đáp ứng các điệu kiện về thời gian hoạt động hợp pháp ở nước sở tại (ít nhất 10 năm) và tổng tài sản tối thiểu (tương đương 2 tỷ đô la Mỹ). Sau ngày 11/1/2012, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được thiết lập các chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.

    Dịch vụ chứng khoán:
    Nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện hoặc sở hữu đến 49% vốn điều lệ của các công ty chứng khoán liên doanh tại Việt Nam, sau ngày 11/1/2012, được phép thành lập các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh. Chi nhánh của công ty chứng khoán nước ngoài chỉ được cung cấp: dịch vụ quản lý tài sản, quản lý quỹ đầu tư, lưu ký, thanh toán bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, tư vấn và các hoạt động môi giới và phụ trợ khác liên quan đến chứng khoán.

    Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác:
    Các ngân hàng thương mại nước ngoài được phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh tại Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện về tổng mức tài sản tối thiểu. Từ ngày 01/01/2011, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được phép nhận tiền gửi Việt Nam đồng ở mức tương tự các ngân hàng trong nước nhưng không được phép mở các điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của chi nhánh. Nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của các ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam hay các ngân hàng quốc doanh của Việt Nam được cổ phần hóa, tuy nhiên tổng số cổ phần do phía nước ngoài sở hữu không quá 30% vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại trong nước.

     

    4. Dịch vụ vận tải

    Dịch vụ vận tải biển:

    Nội dung cam kết của Việt Nam đối với các dịch vụ vận tải biển được đánh giá là khá cao so với cam kết của các nước đã gia nhập WTO trước đây, kể cả đối với Trung Quốc. Theo đó, kể từ ngày 11/01/2009, các công ty vận tải biển nước ngoài được phép thành lập công ty liên doanh để khai thác đội tàu mang quốc tịch Việt Nam, và sở hữu đến 49% tổng vốn pháp định của liên doanh. Kể từ ngày 11/01/2012, các công ty vận tải biển nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ vận tải biển có liên quan tới hàng hóa do các công ty vận tải nước ngoài vận chuyển.

    Dịch vụ vận tải hàng không:
    được cam kết là dịch vụ tiếp thị và bán sản phẩm hàng không, dịch vụ đặt, giữ chỗ bằng máy tính và dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng máy bay. Trong đó, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để cung cấp dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng máy bay. Việc cung cấp dịch vụ đặt, giữ chỗ bằng máy tính phải sử dụng mạng viễn thông công cộng dưới sự quản lý của các cơ quan hữu quan Việt Nam. Ngoài ra, các hãng hàng không nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ tiếp thị và bán sản phẩm hàng không thông qua văn phòng bán vé của mình hoặc đại lý tại Việt Nam.

    Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa và dịch vụ vận tải đường sắt:
    Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép tham gia thành lập liên doanh và sở hữu không quá 49% tổng vốn pháp định của liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải đường thủy nội địa và dịch vụ vận tải đường sắt tại Việt Nam.

    Dịch vụ vận tải đường bộ:
    Xuất phát từ thực tế là thị trường vận tải đường bộ nội địa còn phát triển nhỏ lẻ, do đó, các cam kết của Việt Nam đối với dịch vụ này còn khá hẹp và còn bảo hộ lâu dài. Theo Biểu Cam kết, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép sở hữu đến 49% vốn điều lệ của liên doanh, từ ngày 11/01/2010, tùy theo nhu cầu thị trường, tỷ lệ được xem xét để tăng đến mức 51%.

    Dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải
    Dịch vụ hỗ trợ tất cả các phương thức vận tải sẽ được mở cửa theo lộ trình tăng dần tỷ lệ sở hữu vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong liên doanh. Kể từ ngày 11/01/2014, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ kho bãi và dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa. Đồng thời, không hạn chế về tỷ lệ vốn góp nước ngoài trong các liên doanh cung cấp dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải khác, ngoại trừ dịch vụ xếp dỡ công-ten-nơ.

     

    5.Dịch vụ thông tin

    Dịch vụ chuyển phát nhanh:

    nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập liên doanh và sở hữu tối đa 51% vốn điều lệ của liên doanh kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh. Sau ngày 11/01/2012, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, Việt Nam cũng bảo lưu một số hoạt động của dịch vụ chuyển phát nhanh có ý nghĩa thương mại quan trọng đối với doanh nghiệp trong nước, như: chuyển phát thông tin dưới dạng văn bản có khối lượng dưới 2.000 gram và giá cước gấp 10 lần cước một bức thư tiêu chuẩn gửi trong nước ở nấc khối lượng đầu tiên và thấp hơn 9 đôla Mỹ khi gửi quốc tế.

    Dịch vụ viễn thông cơ bản:
    đến trước ngày 11/01/2010, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông cơ bản không có hạ tầng mạng dưới hình thức liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh. Sau đó, nhà đầu tư ngoài được phép tự do lựa chọn đối tác khi thành lập liên doanh và sở hữu tối đa 65% vốn pháp định của liên doanh. Đối với dịch vụ viễn thông cơ bản có hạ tầng mạng, nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu tối đa 49% vốn pháp định trong liên doanh với nhà khai thác dịch vụ đã được cấp phép Việt Nam.

    Đối với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng
    Đối với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng không có hạ tầng mạng, Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam và sở hữu tối đa 51% vốn pháp định của liên doanh. Sau ngày 11/01/2010, tỷ lệ sở hữu vốn của phí nước ngoài trong liên doanh tăng thành 65%. Đối với các dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được sở hữu tối đa 50% vốn điều lệ trong các liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam.

    Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN):
    Riêng đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) không có hạ tầng mạng, nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn đối tác liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp không được vượt mức 70% vốn pháp định của liên doanh. Đối với mạng riêng ảo (VPN) có hạ tầng mạng, cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập liên doanh trong đó phần vốn góp không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh. Ngoài ra, Việt Nam cũng cam kết cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ được kiểm soát dung lượng truyền dẫn cáp quang biển toàn chủ đối với các tuyến cáp quang biển mà Việt Nam là thành viên, sau đó cung cấp lại dung lượng truyền dẫn này cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế có hạ tầng mạng được cấp phép tại Việt Nam.
    Dịch vụ nghe nhìn:
    Nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này, và sở hữu phần vốn góp tối đa là 51% vốn pháp định của liên doanh.

     

    6.Dịch vụ giáo dục

    Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập các cơ sở đào tạo 100% vốn đầu tư nước ngoài để cung cấp dịch vụ giáo dục bậc cao, giáo dục cho người lớn và các dịch vụ giáo dục khác, ngoại trừ dịch vụ giáo dục phổ thông cơ sở.

     

    7.Dịch vụ môi trường

    Nhà đầu tư nước ngoài được cấp phép thành lập liên doanh để kinh doanh các dịch vụ môi trường sau: (i) Dịch vụ xử lý nước thải; (ii) Dịch vụ xử lý rác thải; (iii) Dịch vụ làm sạch khí thải; (iv) và dịch vụ xử lý tiếng ồn; (v) Dịch vụ đánh giá tác động môi trường. Trong đó phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% vốn điều lệ của liên doanh. Kể từ ngày 11/01/2011, được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để kinh doanh dịch vụ môi trường nêu trên.
    Việt Nam bảo lưu cam kết này đối với các dịch vụ được cung cấp để thực thi quyền hạn của Chính phủ như được quy định tại Điều I: 3(c) của GATS.

     

    8.Dịch vụ dụ lịch
    và các dịch vụ liên quan

    Theo nội dung cam kết, đến trước ngày 11/01/2015, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khách sạn và nhà hàng cần tiến hành song song với đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn. Riêng với dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh với đối tác Việt Nam mà không bị hạn chế tỷ lệ vốn góp. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung ứng dịch vụ đưa khách từ nước ngoài vào Việt Nam và lữ hành nội địa đối với khách do công ty đưa vào du lịch Việt Nam, không được cung ứng các dịch vụ đưa khách ra nước ngoài du lịch và tổ chức các tour trong nước cho khách trong nước.


    9.Dịch vụ xây
    dựng và dịch vụ
    kỹ thuật liên
    quan

    Kể từ ngày 11/01/2010, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và cả chi nhánh kinh doanh dịch vụ xây dựng và dịch vụ kỹ thuật có liên quan.


    10.Dịch vụ y tế -
    xã hội

    Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua thành lập bệnh viện 100% vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh. Nội dung Biểu Cam kết cũng yêu cầu vốn đầu tư tối thiểu cho một bệnh viện là 20 triệu Đô la Mỹ, cho bệnh xá đa khoa là 2 triệu Đô la Mỹ và cho các cơ sở điều trị chuyên khoa là 200 nghìn Đô la Mỹ.

    11.Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể
    thao

    Nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập liên doanh, với các đối tác Việt Nam đã được cấp phép để kinh doanh trò chơi điện tử. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định. Đối với dịch vụ giải trí, bao gồm: nhà hát, nhạc sống và xiếc chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu đến 49% vốn pháp định trong các liên doanh sau ngày 11/01/2012.

     

     

     


Video clip

Liên Kết Site

Hỗ trợ trực tuyến

  • Luật Sư Đặng Thế Phiệt
  • Luật Sư Đặng Văn Cường
  • Luật sư Lê Nguyễn Quốc Chương
  • Chuyên viên pháp lý Nguyễn Bảo
  • Chuyên viên pháp lý Nguyễn Thị
  • Luật sư Lư Quang Vinh

Liên kết chúng tôi

Thống kế

Hiện có: 4 khách đang trực tuyến

Tiện ích