• example
  • example
  • example
  • example
  • example

Trang chủ - Hỏi Đáp - Các thắc mắc thường gặp

    1. Anh họ em bị kết án 15 năm tù tội cố ý gây thương tích, tính đến thời điểm nay anh ấy đã thi hành án được 7 năm, em muốn làm đơn xin giảm án cho anh liệu có được không? Và thủ tục như thế nào? Và trường hợp anh em còn phải bồi thường tiền cho người bị hại nhưng anh em chưa có điều kiện trả thì sẽ như thế nào?

     

     Trả lời:

     

    Khoản 1, Điều 58, bộ luật hình sự quy định: Người bị kết án phạt tù, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù, Toà án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

    Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, mười hai năm đối với tù chung thân.

    Anh họ của bạn đã chấp hành 7 năm tù, như vậy đã đủ điều kiện về mặt thời hạn. Tuy nhiên, để được giảm thời hạn anh bạn phải lập công, có tiến bộ trong quá trình chấp hành hình phạt và việc giảm hình phạt căn cứ vào đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù không phụ thuộc việc người thân có đơn yêu cầu hay không. Đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù sẽ được gửi tới Tòa án nhân dân cấp Tỉnh nơi anh bạn chấp hành hình phạt để xem xét.

    Ngoài ra, Điều 59, bộ luật hình sự quy định Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt: Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Toà án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 58 của Bộ luật này.

    Vấn đề bồi thường thiệt hại của anh bạn trong vụ án hình sự là một trong các căn cứ nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi tòa án xét xử mà không phải là căn cứ để xem xét việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Ngay khi anh bạn có tài sản để thực hiện việc bồi thường, cơ quant hi hành án sẽ tiến hành cưỡng chế việc bồi thường đó.


     

    2. Do bị bệnh nằm viện nên tôi đã không gửi kháng cáo lên Tòa án đúng thời hạn. Trường hợp của tôi có được xem xét cho kháng cáo lại không?

     

    Trả lời:

    Theo quy định tại mục 5 phần I của Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao có quy định việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng. “Lý do chính đáng” là trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác (như: do thiên tai, lũ lụt, do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện….) làm cho người kháng cáo không thể thực hiện việc kháng cáo trong thời hạn luật định.

    Như vậy, bạn có thể tính thời hạn kháng cáo trong đó thời gian bạn điều trị tại bệnh viện sẽ không tính vào thời hạn kháng cáo.

     


     

    3. Xin hỏi tôi sinh con ngoài giá thú, bây giờ làm thế nào để khai sinh cho cháu? có bắt buộc có tên người cha hay không?

     

    Trả lời

    Khoản 1 Điều 13 và Điều 14 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CPngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định, UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì UBND cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.

    Cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.

    Thủ tục đăng ký khai sinh

    Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP (trong đó có khoản 1 Điều này đã được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 1 Nghị định số06/2012/NĐ-CP ngày 2/2/2012 của Chính phủ) quy định thủ tục đăng ký khai sinh như sau:

    Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Tờ khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).

    Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

    Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

    Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

    Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

     


     

    4. Quyền nuôi con khi li hôn được giải quyết như thế nào?

     

    Trả lời:

    Căn cứ Khoản 2 – Điều 92 – luật HN&GĐ: “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.”

    Căn cứ điểm d – Mục 11 – NQ 02/2000/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Luật HN& GĐ: “d. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai”

     


     

    5. Xin hỏi trong trường hợp người con gái đã có con riêng với người yêu, nhưng vì hoàn cảnh bị gia đình ép buộc phải lấy người khác làm chồng. Sau này sinh con thì trên GKS người chồng không phải là cha ruột của bé đứng tên cha ruột. Sau này người vợ ly dị chồng và quay lại với người cha ruột của bé thì có thể tiến hành thay đổi thông tin người cha thật của bé trên GKS được không?

     

    Trả lời

    Điều 36 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch đã quy định về phạm vi thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch (phạm vi gồm: Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh; Cải chính những nội dung đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng có sai sót trong khi đăng ký; Xác định lại dân tộc của người con theo dân tộc của người cha hoặc dân tộc của người mẹ theo quy định của Bộ luật Dân sự; Xác định lại giới tính của một người…; Bổ sung những nội dung chưa được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh…);

    Do đó nếu muốn thay đổi thông tin của người cha trên giấy khai sinh của người con thì người cha ruột phải làm thủ tục xác định cha con theo quy định của pháp luật. Bởi lẽ, việc thay đổi thông tin trên đăng ký khai sinh việc ghi tên người cha trên giấy khai sinh phải có cơ sở rõ ràng, cán bộ tư pháp hộ tịch phải căn cứ vào giấy tờ, tài liệu liên quan (giấy đăng ký kết hôn của cha mẹ, giấy công nhận cha mẹ con …), không phải tùy tiện ghi vào giấy khai sinh được. Điều này thể hiện rõ tại phần quy định về thủ tục đăng ký khai sinh tại Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP:

    Theo Điều 34 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con được quy định như sau:

     1. Người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

     Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

     a/ Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

     b/ Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có).

     2. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận, cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.

     Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.

     3. Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận hoặc cha hoặc mẹ đã chết. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên.

    Sau khi có quyết định công nhận quan hệ cha con thì cán bộ hộ tịch sẽ ghi vào sổ hộ tịch về việc xác định cha con vào sổ đăng ký khai sinh trước đây của người con.

     


     

    6. Tài sản tranh chấp là đất thuộc sở hữu người em ruột đã mất của gia đình tôi. Đất có sổ đỏ riêng đứng tên em tôi,chỉ có khẩu là vẫn chung với nhà tôi (em tôi k có vợ con gì cả) vì chưa tách, các anh em còn lại đã tách khẩu và có sổ đỏ riêng hết rồi). Đất thuộc tài sản thừa kế do cha mẹ để lại cho mỗi anh em. Toàn bộ đất được bố mẹ chia đều cho 4 anh em trai, còn các chị gái đều lập gia đình và k được chia đất. Xin hỏi vấn đề thừa kế mảnh đất này được giải quyết như thế nào? Rất mong nhận được lời khuyên sớm nhất từ phía luật sư. Gia đình xin cảm ơn!

     

    Trả lời:

    Theo thông tin bạn cung cấp, thì mảnh đất của em trai bạn đã có sổ đỏ đứng tên em trai bạn. Như vậy, đây chính là tài sản của em trai bạn hay còn gọi là di sản thừa kế khi em trai bạn mất.

    Mảnh đất của em trai bạn sẽ được chia thừa kế theo hai cách:

    Thứ nhất, nếu em trai bạn có để lại di chúc thể hiện ý nguyện để lại mảnh đất cho ai thì mảnh đất sẽ được chia theo nội dung di chúc.

    Thứ hai, trong trường hợp em trai bạn không để lại di chúc thì mảnh đất sẽ được chia theo quy định của pháp luật .

    Điều 676, luật dân sự 2005 quy định những người được chia thừa kế khi không có di chúc như sau:

    1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”

    Theo thông tin bạn cung cấp thì không có những người thừa kế ở hàng thứ nhất (cha, mẹ, vợ, con). Như vậy, xem xét ở hàng thừa kế thứ hai thì những người thừa kế là những anh, chị, em còn lại của em trai bạn (có thể có cả ông bà nội ngoại nếu ông bà nội ngoại còn sống), mảnh đất sẽ được chia đều cho những người thừa kế.

    Bạn có thể tập hợp gia đình để thống nhất việc chia, nếu xảy ra tranh chấp có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

     


     

    7. Anh trai tôi mất năm 2012, cha tôi mất năm 2013, như vậy cháu (con ruột của anh trai tôi) tôi có được hưởng di sản của cha tôi để lại?

     

    Trả lời:

    Thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.

    Tại BLDS cũng quy định về trường hợp thừa kế thế vị: Thừa kế thế vị chỉ được tính đến trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, trong trường hợp người con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống.

    Như vậy, người cháu có được hưởng di sản của ông hai không ohuj thuộc vào hai yếu tố

    Thứ nhất, đây là trường hợp chia thừa kế theo pháp luật: người ông không để lại di chúc hoặc di chúc không có hiệu lực.

    Thứ hai, người cha đã mất trước hoặc cũng thời điểm với người ông

     


     

    8. Tôi hiện đang có một miếng đất vườn của cha mẹ cho, nay tôi muốn chuyển mục đích sử dụng sang đất ở thì diều kiện như thế nào?

     

    Trả lời:

    Khoản 3, Điều 30 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật Đất đai quy định về điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất, theo đó:

    Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết thì căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

    Ngoài ra, còn phải phù hợp với hạn mức giao đất ở theo quy định ở địa phương.

    Muốn chuyển đất vườn thành đất thổ cư phải đáp ứng điều kiện như trên

     


     

    9. Hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng bao gồm những tài liệu nào?

     

    Trả lời:

    1. Tuỳ theo tính chất, quy mô công trình, hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng bao gồm những tài liệu chủ yếu sau đây:

    a) Đơn xin cấp giấy phép xây dựng;

    b) Bản vẽ thiết kế xây dựng công trình;

    c) Giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

    2. Đối với công trình, nhà ở riêng lẻ quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật này thì trong hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng công trình ngoài các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này, chủ công trình xây dựng còn phải có giấy cam kết tự phá dỡ công trình khi Nhà nước thực hiện quy hoạch xây dựng.

    (Điều 63, Luật Xây dựng 2003)

     


     

    10. Vợ chồng tôi có một mảnh đất, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến nay chúng tôi muốn chuyển nhượng cho con gái út. Vậy xin hỏi chúng tôi có phải nộp thuế thu nhập cá nhân không?

     

    Trả lời:

    Điều 3, luật thuế thu nhập cá nhân quy định về đối tượng phải chịu thuế, theo đó

    1. Đối tượng phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo điều 3 của Luật Thuế thu nhập cá nhân gồm:

    - Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

    - Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tài sản gắn liền với đất, bao gồm:  Nhà ở;  Kết cấu hạ tầng và các công trình xây dựng gắn liền với đất; Các tài sản khác gắn liền với đất bao gồm các tài sản là sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp (cây trồng, vật nuôi,...).

    - Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở.

    - Thu nhập từ chuyển quyền thuê đất, thuê mặt nước.

    - Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.

    2. Tuy vậy, tại điều 4 của Nghị định số 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ, hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định về đối tượng không phải chịu thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng nhà đất đối với một số trường hợp được miễn thuế thu nhập, trong đó có: Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; giữa mẹ chồng, cha chồng với con dâu; giữa bố vợ, mẹ vợ với con rể; giữa ông nội, bà nội với cháu nội; giữa ông bà ngoại với cháu ngoại; giữa anh chị em ruột với nhau.

    Với quy định của pháp luật như trên thì trường hợp của ông bà khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho con gái thì sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân.

    Tuy nhiên, hồ sơ phải thể hiện được bất động sản chuyển nhượng đó là của bố mẹ đẻ cho con đẻ cần có một trong hai giấy tờ sau: bản sao sổ hộ khẩu (nếu cùng sổ hộ khẩu) hoặc bản sao giấy khai sinh; Trường hợp con ngoài giá thú thì phải có bản sao quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con của cơ quan có thẩm quyền.

     


     

    11. Em có mua một chiếc xe gắn máy đã qua nhiều đời chủ nên chỉ có giấy tờ xe và giấy viết tay bên bán xe. Làm thế nào để em đổi giấy tờ xe thành tên em?

     

    Trả lời:

    Theo quy định tại Khoản 3 Điều 20 Thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Thông tư số 12/2013/TT – BCA ngày 01/03/2013 của Bộ Công An quy định về việc: “Giải quyết đăng ký xe đối với trường hợp xe đã đăng ký, chuyển nhượng qua nhiều người” như sau:

    Từ ngày 15/4/2013 đến ngày 31/12/2014, việc giải quyết đăng ký xe đối với trường hợp xe đã đăng ký, chuyển nhượng qua nhiều người, trong trường hợp đăng ký sang tên, di chuyển xe từ tỉnh này sang tỉnh khác được thực hiện như sau:

    - Trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển nhượng xe, hồ sơ gồm:

    + Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của Công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

    + Giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe (trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc biển số xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký xe).

    + Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định

    Trường hợp hồ sơ sang tên, di chuyển xe không có chứng từ chuyển nhượng theo quy định thì viết giấy hẹn và thực hiện các thủ tục sang tên, di chuyển xe cho người sử dụng xe. Giấy hẹn do lãnh đạo cơ quan đăng ký xe ký, đóng dấu và có giá trị được sử dụng xe trong thời gian 30 ngày chờ cơ quan đăng ký xe giải quyết thủ tục sang tên, di chuyển xe. Cơ quan đăng ký xe gửi thông báo đến người đứng tên trong đăng ký xe và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đăng ký xe, tra cứu tàng thư xe mất cắp và dữ liệu đăng ký xe. Sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo và niêm yết công khai, cơ quan đăng ký xe giải quyết sang tên, di chuyển xe theo quy định.

     


     

    12. Yêu cầu cơ quan tố tụng bồi thường thiệt hại?

     

    Trả lời:

    Hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan tiến hành tố tụng hình sự bao gồm các giấy tờ sau:

    1. Khi nhận được bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của luật này thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định sau đây:

    a) Người bị thiệt hại do quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 30 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can;

    b) Người bị thiệt hại do quyết định của Viện kiểm sát quy định tại Điều 31 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Viện kiểm sát đã ra quyết định đó;

    c) Người bị thiệt hại do bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 32 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Toà án đã ra bản án, quyết định đó.

    2. Đơn yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự quy định tại khoản 1 Điều này có các nội dung chính sau đây:

    a) Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;

    b) Lý do yêu cầu bồi thường;

    c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.

    3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có bản án, quyết định xác định người đó thuộc một trong các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.

    (Điều 34, luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2009)

     


     

    13. Xin luật sư cho hỏi hồ sơ thành lập công ty TNHH gồm những giấy tờ gì?

     

    Trả lời:

    Hồ sơ thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn gồm các giấy tờ sau:

    1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.

    2. Dự thảo Điều lệ công ty.

    3. Danh sách thành viên và các giấy tờ kèm theo sau đây:

    a) Đối với thành viên là cá nhân: bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác;

    b) Đối với thành viên là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản uỷ quyền, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo uỷ quyền.

    Đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải có chứng thực của cơ quan nơi tổ chức đó đã đăng ký không quá ba tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.

    4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.

    5. Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.

    (Điều 18, luật doanh nghiệp 2005)

     


     

    14. Luật sư cho hỏi tôi là bị đơn trong một vụ án dan sự, nếu tôi không có mặt tại phiên tòa thì tòa có tiến hành xét xử không? Quyền lợi của tôi có bị ảnh hưởng không?

     

    Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng, phải hoãn phiên toà. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, Toà án vẫn xét xử vắng mặt họ.

    Mặc dù bị đơn bị xét xử vắng mặt nhưng họ vẫn được quyền kháng cáo. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo (15 ngày) sẽ tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết

     


     

    15. Tôi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có được hưởng chế độ thai sản?

     

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 4, luật Bảo hiểm xã hội 2006, Các chế độ bảo hiểm xã hội bao gồm:

    1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: a) ốm đau; b) Thai sản; c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; d) Hưu trí; đ) Tử tuất.

    2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: a) Hưu trí; b) Tử tuất.

    Như vậy, nếu bạn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì bạn không được hưởng chế độ thai sản.

     

    16. Gia đình tôi có mảnh đất tranh chấp với gia đình bà A từ năm 1990 tới nay. Theo trích lục bản đồ năm 1993 thì mảnh đất trên là thuộc về gia đình tôi (Có chữ kí của ban lãnh đạo của cơ quan chức năng huyện năm 2001). Nay mảnh đất đó gia đình tôi vẫn trồng trọt. Nhưng đến năm 2009 chính quyên địa phương xã lại cấp sổ đỏ cho gia đình ông B (ông B là người mua lại mảnh đất trên do bà A bán lai cho). Theo tôi được biết thì đất đai có tranh chấp thì không được phép chuyển nhượng hay mua bán. Vậy nay tôi hỏi chính quyền địa phương cấp sổ đỏ cho gia đình ông B là đúng hay sai . Gia đình tôi có làm đơn nên các cơ quan như xã, huyện thị đều nhận được lời khất lần. Nay tôi muốn hỏi gia đình tôi phải làm như thế nào?

     

    Trả lời:

    1. Điều 106 Luật Đất đai quy định: Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119; điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật Đất đai khi có các điều kiện sau đây:

    a) Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

    b) Đất không có tranh chấp;

    c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

    d) Trong thời hạn sử dụng đất.

    Như vậy, mảnh đất mà nhà bạn và bà A đang tranh chấp thì không được phép chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật. Nếu đúng là chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B (là người mua lại mảnh đất trên của bà A) khi đang có tranh chấp là chưa phù hợp với quy định nêu trên.

    2. Đây là tranh chấp về quyền sử dụng đất nên bạn có thể làm đơn khởi kiện gửi tới cơ quan chức năng theo quy định của Luật đất đai như sau:

    a. Trước hết, hai bên có thể tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.

    Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.

    Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.

    Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.

    Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.

    b. Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai:

    - Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà các bên có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;

    - Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà các bên không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được giải quyết như sau:

    + Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

    + Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

    3. Ngoài ra, nếu có đủ căn cứ chứng minh việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B là không đúng quy định của pháp luật thì bạn có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.

    Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

     

    17. Nhờ LS tư vấn giúp tình huống nhà của gia đình tôi. Để các LS hiểu rõ vấn đề, tôi xin phép trình bày chi tiết sự việc như sau:

    Vào tháng 8 năm 2013, tôi có thỏa thuận mua nhà của bà Ngọc tại Quận 12, Hợp đồng mua bán được thực hiện tại một phòng công chứng tại tpHCM. Tổng số tiền 760tr. Tôi đã thanh toán 740tr ngay khi công chứng còn lại 20tr sẽ thanh toán sau khi đăng bộ sang tên từ bên bán qua bên mua. Ngay sau khi giao dịch mua bán xong tôi tiến hành thủ tục đăng bộ sang tên tại UBND Q12 và UBND Q12 hẹn vào cuối tháng 9 năm 2013 sẽ trả kết quả. Trong lúc tôi đang chờ kết quả đăng bộ từ Q12 thì vào ngày 25 tháng 9 năm 2013 thì có 2 người ở tóa án quận Q12 xuong nhà và nói nhà tôi đang bị tranh chấp...

    Lý do tranh chấp: là ông Ba(chồng) có cho bà Ngọc(vợ bé) một số tiền gần 1 tỷ đồng nay ông ta yêu cầu bà Ngọc trả lại tiền và yêu cầu Q12 ngăn chặn khẩn cấp việc mua bán thuê chấp căn nhà trên...

    Trong trường hợp nêu trên, tôi có một số vấn đề nhờ các LS tư vấn hướng giải quyết:

    1. Về pháp luật căn nhà đó có thuộc quyền sở hửu của tôi hay chưa?

    2. Căn nhà của tôi có tiếp tục được đăng bộ sang tên vợ chồng tôi không?

    3. Việc tranh chấp giữa bà Ngọc và ông Ba có lên quan gì đến tôi không? Nếu có thì 4. trước pháp luật tôi có bất lợi gì hay không?

    5. Nếu ra pháp luật thì căn nhà của tôi có bị phát mãi hay không? Nếu có thì tôi có thể lấy lại được số tiền mà tôi đã đưa cho ba Ngoc hay không?

    Lưu ý: Căn nhà này chì có mình bà Ngọc đứng tên trên sổ Hồng và có giấy chứng nhận độc thân.

    Rất cám sự tư vấn của các LS.

     

    Trả lời:

    Thứ nhất, về quyền sở hữu của căn nhà: bạn chưa được cấp GCNQSDĐ, nên chưa phải là chủ sở hữu của căn nhà

    Thứ hai, về việc có tiếp tục được chuyển QSDĐ hay không: vấn đề này còn tùy thuộc vào căn nhà đó có thuộc đối tượng được CNQSDĐ hay không.

    Theo PL đất đai, Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện với các điều kiện sau:

    - Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

    - Đất không có tranh chấp;

    - Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

    - Trong thời hạn sử dụng đất.

    Như vậy, trường hợp của bạn, phải xem xét căn nhà có bị tranh chấp hay không. Luật Đất đai quy định: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Như vậy cần phải làm rõ: tranh chấp phát sinh của ông Ba và bà Ngọc có được coi là tranh chấp quyền sử dụng đất hay không.

    Về mặt chủ thể và đối tượng tranh chấp:  Việc ông Ba cho  bà Ngọc 1 tỷ là độc lập với việc bà Ngọc sở hữu căn nhà này. Đối tượng tranh chấp ở đây là việc đòi lại tiền, không phải là quyền sử dụng đất. Việc ông Ba yêu cầu TA ngăn chặn việc mua bán nhà là vô lý.

    Hơn nữa, nếu bà Ngọc sử dụng tiền ông Ba cho để mua nhà, cũng không thể lấy mục đích sử dụng tiền (mua đất) để làm căn cứ xác định đây là tranh chấp đất đai. Việc sử dụng nguồn tiền này không làm ảnh hưởng đến tư cách chủ sử dụng đất của chủ đất, không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người đó. Khi được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chủ đất đương nhiên có quyền thực hiện việc chuyển dịch thửa đất đó vì đó là quyền hợp pháp của họ.

    Như vậy, nếu chỉ có tranh chấp như bạn nói ở trên, bạn hoàn toàn có căn cứ để tiếp tục được Cấp GCNQSDĐ. Nếu có tranh chấp khác liên quan đến QSDĐ mà bạn nhận chuyển nhượng, thì việc cấp GCNQSDĐ cho bạn có thể bị tạm ngừng.

    Về việc tranh chấp của ông Ba và bà Ngọc. TA có thể triệu tập bạn đến với tư cách Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bạn có thể yên tâm vì HĐ chuyển nhượng QSDĐ bạn hoàn toàn hợp pháp. Đây chỉ là  là thủ tục để bảo vệ quyền lợi của bạn. 

    Về  căn nhà bạn mua của bà Ngọc: Căn nhà của bạn không bị phát mại, vì căn nhà đó thuộc quyền sở hữu của bà Ngọc, bà Ngọc có quyền bán nhà. Như đã phân tích ở trên, việc ông Ba đòi lại tiền không liên quan đến việc bà Ngọc bán nhà.

    Nếu không muốn tiếp tục mua nhà, bạn có thể thỏa thuận với bà Ngọc về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng đã công chứng. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận. Như vậy, nếu thỏa thuận hủy hợp đồng thì bà Ngọc sẽ phải trả lại cho bạn toàn bộ số tiền đã nhận của bạn. Việc hủy hợp đồng được thực hiện tại tổ chức công chứng đã chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng đó theo trình tự, thủ tục quy định của luật công chứng.

    Trân trọng!

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


Các Tin Khác

Video clip

Liên Kết Site

Hỗ trợ trực tuyến

  • Luật Sư Đặng Thế Phiệt
  • Luật Sư Đặng Văn Cường
  • Luật sư Lê Nguyễn Quốc Chương
  • Chuyên viên pháp lý Nguyễn Bảo
  • Chuyên viên pháp lý Nguyễn Thị
  • Luật sư Lư Quang Vinh

Liên kết chúng tôi

Thống kế

Hiện có: 12 khách đang trực tuyến

Tiện ích